Bộ Kit tách chiết huyết tương làm giàu tiểu cầu New PRP Pro KitDòng mỹ phẩm geneworld
Điều trị thoái hóa khớp gối bằng cách sử dụng tế bào gốc mỡ tự thân và huyết tương giàu tiểu cầu: một nghiên cứu lâm sàng

Biomedical Research and Therapy 2014, 1(2):37-42                                                                                       ISSN 2198-4093 www.bmrat.org

ORIGINAL RESEARCH

 

 

Điều trị thoái hóa khớp gối bằng cách sử dụng tế bào gốc mỡ tự thân

 

và huyết tương giàu tiểu cầu: một nghiên cứu lâm sàng

 

 

Khanh Hong-Thien Bui1, Triet Dinh Duong1, Nhan Thanh Nguyen1, Thanh Duc Nguyen1, Vien Tuong Le1, Viet Thanh Mai1, Nhan Lu-Chinh Phan2, Dung Minh Le2, Ngoc Kim Ngoc2, Phuc Van Pham 2,*

1Bệnh viện Đại học y dược Tp. HCM, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

2 PTN nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc, Trường Đại học Khoa học, Đại học Quốc gia Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; * Tác giả: pvphuc@hcmuns.edu.vn

 

Received: 15 December 2013 / Accepted: 02 February 2014 / Published online: 7 February 2014 © The Author(s) 2014. This article is published with open access by BioMedPress (BMP), Laboratory of Stem Cell Research and Application.

 

TÓM TẮT

Thoái hóa khớp gối là một trong những bệnh phổ biến nhất, và nó ảnh hưởng đến 12 % dân số trên thế giới. Mặc dù căn bệnh này là bệnh mãn tính, nó làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Hiện nay, liệu pháp tế bào gốc được coi là một cách tiếp cận hiệu quả để điều trị tình trạng này. Tế bào gốc trung mô (MSC) cho thấy tiềm năng nhất cho liệu pháp tế bào gốc điều trị thoái hóa khớp gối. Trong thực tế, MSC có thể phân biệt các mô mesodermal nhất định như sụn và xương. Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng MSC có nguồn gốc từ mỡ để điều trị thoái hóa khớp gối. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả lâm sàng của các mô mỡ tự thân có nguồn gốc MSC cấy ghép ở những bệnh nhân thoái hóa khớp gối độ II và III. Mô mỡ được phân lập từ bụng, và được sử dụng để tách chiết các phân đoạn nhỏ của mạch máu (SVF) . Các SVF được trộn với huyết tương giàu tiểu cầu đã hoạt hóa trước khi tiêm. Hiệu quả lâm sàng được đánh giá bằng điểm đau (VAS), điểm số Lysholm, và MRI. Chúng tôi thực hiện trong 21 trường hợp từ năm 2012-2013. Tất cả 21 bệnh nhân cho thấy cải thiện chức năng khớp sau 8.5 tháng. Điểm số đau giảm từ 7.6 ± 0,5 trước khi tiêm xuống còn 3.5 ± 0,7 sau 3 tháng và 1.5 ± 0.5 sau 6 tháng sau khi tiêm. Điểm số Lysholm tăng từ 61 ± 11 trước khi tiêm lên 82 ± 8.1 sau khi tiêm. Tiến triển đáng kể này đã được ghi nhận trong chụp MRI, với độ dày của lớp sụn tăng.

Hơn nữa, không có tác dụng phụ hoặc biến chứng liên quan đến nhiễm trùng, thải ghép, hoặc tác nhân gây ung thư mới. Những kết quả này cung cấp một cơ hội mới cho việc điều trị thoái hóa khớp gối. Mức chứng cứ : IV.

 

Keywords-Osteoarthritis, Adipose tissue-derived stem cell, Stromal vascular fraction, Platelet rich plasma.

 

 

GIỚI THIỆU

Tổn thương sụn là một tình trạng lâm sàng thường gặp, đặc biệt là ở những người độ tuổi trên 40. Tổn thương như vậy có thể dẫn đến viêm xương khớp nếu không được điều trị thích hợp. Viêm xương khớp là một sự tiến triển thoái hóa mãn tính mà kết quả là thoái hóa sụn khớp, thoái hóa khớp, thay đổi cấu trúc của xương, và mất chức năng khớp (Wieland et al., 2005). Tại thời điểm hiện tại, tổn thương sụn được điều trị bằng thuốc (Dougados năm 2001;. Eyigor et al, 2006) hoặc tiêm axit hyaluronic (Chen et al, 2011;.. Karatosun et al, 2008;. Spakova et al, 2012) để giảm triệu chứng, giảm đau, và kiểm soát vôi hóa. Tuy nhiên, những phương pháp điều trị bị hạn chế về hiệu quả và không ngăn chặn được quá trình tiến triển của bệnh (Schroeppel et al., 2011).

 

Nuôi cấy sụn cũng được sử dụng để điều trị tổn thương sụn từ năm 1994. Sụn tự thân được tách triết và nuôi cấy trước khi tiêm vào khớp. Nuôi cấy sụn đã cung cấp một số kết quả tốt (Frisbie và cộng sự, 2008;. Kreuz và cộng sự năm 2013,;. Lee et al, 2003.). Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế, đặc biệt là thiếu nguồn sụn nuôi cấy, hầu như tất cả các sụn đều bị chết sau một thời gian nuôi cấy trưởng thành.

 

Một nghiên cứu gần đây cho thấy sự hiện diện của tế bào gốc trong các mô mỡ, và được gọi là các tế bào gốc có nguồn gốc từ các tế bào mỡ (ADSCs).  Những tế bào này được coi là tế bào gốc trung mô (MSC) có biểu hiện một số tính chất đặc biệt.

Chúng tham gia hình thành bề mặt giống như nguyên bào sợi, và biệt hóa thành các tế bào tạo xương, sụn, và các tế bào mỡ (Zuk et al. , 2001). Họ cũng thể hiện các dấu hiệu đặc biệt của MSC, chẳng hạn như CD44, CD73, CD90 và CD105, nhưng đều âm tính với CD14, CD34, CD45 (Gaiba et al, 2012; . . Khan và cộng sự, 2012;. Zhu et al, 2012; Zimmerlin và cộng sự, 2013). So với MSC từ tủy xương và máu dây rốn, ADSCs có nhiều lợi thế (Christodoulou et al. , 2013). Đặc biệt, ADSCs là một nguồn tế bào tự thân phù hợp. Cho đến nay, ADSCs đã trở thành ứng cử viên tuyệt vời cho nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng cấy ghép ADSC có hiệu quả cải thiện hầu hết các triệu chứng của một số bệnh như xơ gan, dị tật thần kinh (Gu và cộng sự, 2012 ( Harn và cộng sự, 2012. ); . . Liu và cộng sự , 2011 ; Santiago et al, 2009), thiếu máu cục bộ (Mazo et al , 2012 ; . . . . . Rigol và cộng sự, 2010), chấn thương cơ xương (Pecanha và cộng sự, 2012), giảm tiểu cầu miễn dịch thụ động mãn tính (Xiao et al, 2012.), và nhồi máu cơ tim (Yang et al , 2012. ) ở động vật, và xơ cứng mô ở người ( Riordan và cộng sự năm 2009, ; . Scuderi et al , 2013.) .

 

Với tiềm năng to lớn của ADSCs, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trong vài năm gần đây, bao gồm cả thử nghiệm tiền lâm sàng và thử nghiệm lâm sàng để thực hiện điều trị chấn thương sụn và thoái hóa khớp. Một số mô hình động vật được sử dụng là những chú chó (Black và cộng sự, 2008;.. Black và cộng sự, 2007;. Guercio và cộng sự, 2012) ( Toghraie et al, 2011), trên thỏ, và trên ngựa (Frisbie và cộng sự, 2009) , chuột (Lee và Im, 2012), trên chuột (Ter Huurne và cộng sự năm 2012,;.. Văn Phạm và cộng sự, 2013b), và trên Dê (Murphy et al, 2003.).

 

Trong một nghiên cứu khác, ngược lại ADSCs được coi là ức chế sụn tái sinh. Kết luận này được rút ra từ thí nghiệm của ADSC ghép ở chuột. Nghiên cứu cho thấy ADSCs highly expressed và tiết ra VEGF-A trên bề mặt môi trường nuôi cấy. Phần nổi đã được tìm thấy để ức chế sự tăng sinh sụn, giảm Sox9, Alcan, và collagen II mức độ mRNA, giảm tổng hợp proteoglycan và tăng quá trình apoptosis. Kiểm tra mô học cho thấy các khuyết tật với ADSCs không mọc vào mô từ các cạnh của khuyết tật (Lee et al., 2012).

 

Trong các nghiên cứu công bố trước đây, chúng tôi đánh giá invitro trên mô hình động vật (chuột) tác dụng của huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) trên ADSC biệt hóa thành tế bào sụn. Invitro, chúng tôi cho thấy điều trị bằng ADSCs kết hợp với PRP thúc đẩy sự phát triển và có sự khác biệt vào các tế bào chondrogenic (Van Pham et al., 2013a). Các tế bào thể hiện collagen II, Sox9, và aggrecan. Kết quả là, ADSCs PRP-pretreated cải thiện điều trị của sụn khớp bị chấn thương trong một mô hình chuột so với không điều trị ADSCs. Trong một nghiên cứu khác, chúng tôi nghiên cứu những tác động của PRP trên SVF ghép trong một mô hình chấn thương sụn chuột, và quan sát thấy sự tái sinh tuyệt vời của sụn (Van Pham et al., 2013b). Hơn nữa, không có tác dụng bất lợi từ ADSC hoặc ghép SVF được ghi lại trong các mô hình động vật (Van Pham et al., 2013a).

 

 

XEM TIẾP CLICK

Đối tác - Đại lý